Thứ sáu, ngày 17 tháng tư năm 2026
Danh mục
Quảng cáo

HÀ NỘI - CHÙA BÚT THÁP - CHÙA DÂU - CHÙA BỒ ĐỀ - HÀ NỘI 01 NGÀY

HÀ NỘI - CHÙA BÚT THÁP - CHÙA DÂU - CHÙA BỒ ĐỀ - HÀ NỘI  01 NGÀY
Giá từ: 386,000 VND
Thời gian tour: 01 NGÀY
Khởi hành:
Lịch trình: HÀ NỘI - CHÙA BÚT THÁP - CHÙA DÂU - CHÙA BỒ ĐỀ - HÀ NỘI
 
HÀ NỘI – CHÙA BÚT THÁP – CHÙA DÂU
– CHÙA BỒ ĐỀ – HÀ NỘI   
 
THỜI GIAN : 01 NGÀY
 
( PHƯƠNG TIỆN : Ô TÔ, TÀU THỦY )
 
1.GIỚI THIỆU CHI TIẾT :
 
1.1. CHÙA BÚT THÁP:
 
-Chùa Búp Tháp là một ngôi chùa cổ, mặc dù đã trải qua những lần trùng tu, sửa chữa nhưng chùa vẫn giữ được những nét nguyên sơ hấp dẫn của nó. Chùa Bút Tháp được xây dựng vào thời hậu Lê - thế kỷ 17. Theo lịch sử, chùa được bà Trinh Thị Ngọc Trúc (Hoàng hậu của vua lê Thánh Tông) cùng hai nhà sư người Việt gốc Hoa thiết kế. Chùa nằm trên địa bàn xã Định Tô, huyện Thuận Thành tỉnh Bắc Ninh. Từ thủ đô Hà Nội theo đường 5 v hướng Đông bắc qua chùa Dâu và bờ đê sông Cầu khoảng 25 km là tới chùa Bút Tháp. Bút Tháp có tên nguyên thuỷ ghi trên tấm bia dựng vào năm Phúc Thái thứ 4 (1646) là "Ninh Phúc Tự". Ngoài ra, dân trong vùng còn gọi chùa là Nhạn Tháp.
 
-Chùa thường gọi là chùa Bút Tháp, ở bên đê sông Đuống, thuộc thôn Bút Tháp, xã Đình Tổ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.
 
-Nhiều tài liệu hiện nay cho biết chùa được dựng vào thời Trần. Sách Chùa Bút Tháp (Bùi Văn Tiến, 2000) cũng nói đến vị trụ trì chùa thời Trần là Thiền sư Huyền Quang, Trúc Lâm đệ tam tổ.
 
-Dưới sự bảo trợ của triều đình, chùa được trùng tu vào thế kỷ XVII. Thiền sư Chuyết Chuyết (tên Lý Thiên Tộ, người tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc đến Thăng Long giảng dạy Phật pháp từ năm 1633) được mời trụ trì chùa cho đến khi viên tịch (1644). Vua Lê Chân Tông phong hiệu cho ông là “Minh Việt Phổ Giác Quảng Tế Đại Đức Thiền Sư”. Đệ tử của ông là Thiền sư Minh Hành (người tỉnh Giang Tây, Trung Quốc) tiếp tục trụ trì chùa đến khi viên tịch (1659).
 
-Việc hưng công ngôi chùa có quy mô lớn gắn với tên tuổi của giới quý tộc trong triều là : Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc (con gái của Thanh vương Trịnh Tráng) pháp danh Diệu Viên, Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên pháp danh Diệu Tuệ và Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ.
 
-Chùa kiến trúc theo kiểu :“Nội Công Ngoại Quốc”, gồm 10 nếp nhà với 162 gian nằm trên một trục dài hơn 100 m. Qua tam quan, đến gác chuông hai tầng tám mái. Tiếp đến là nhà tiền đường, nhà thiêu hương, thượng điện. Ở đây còn nhiều di vật của thế kỷ XVII như hai tấm bia đá dựng năm 1647, tấm gỗ chạm hình rồng phượng, chiếc hương án gỗ. Chung quanh tòa thượng điện có lan can bằng đá với 26 bức phù điêu, trong đó, 8 bức chạm cỏ cây hoa lá gồm sen, cúc, trúc, lan, tùng… và 18 bức chạm các loài động vật (kèm với các hoa văn khác) gồm ngựa, dê, trâu, khỉ, cá…
 
-Tòa thượng điện dựng trên nền cao hơn 1 m, gian giữa thờ tượng Tam Thế Phật với hai bàn hương án bằng gỗ đều được chạm khắc vào thế kỷ XVII. Hai gian bên có nhiều tượng, đặc sắc là các tượng Tuyết Sơn, Bồ tát Văn Thù, Bồ tát Phổ Hiền, Quan Âm tọa sơn… và kiệt tác là bảo tượng Quan Âm Thiên Thủ Thiên Nhãn do nhà điêu khắc họ Trương tạc năm 1656. 
 
-Bảo tượng Quan Âm có 11 đầu, mặt chính nhìn phía trước, hai mang tai có hai mặt phụ. Đầu tượng đội thiên quan, phía trên đầu chính có các đầu nhỏ hơn xếp chồng lên nhau thành ba lớp, trên cùng là tượng đức Phật A Di Đà ngồi tòa sen trong tư thế thiền định. Chính giữa thiên quan là một đài sen, phía trên có phù điêu đức Phật A Di Đà ngồi thiền định, có đao lửa tỏa ra chung quanh, có rồng chầu hai bên.
 
-Các đầu tượng đều có khuôn mặt của phụ nữ đôn hậu, tóc chải ngược lên đỉnh búi thành cuộn, mắt hé mở nhìn xuống, tai tượng lớn và dày, đeo hoa tai là bông sen nở. Cổ tượng cao, chạm thành ba ngấn.
 
-Tượng có 42 tay lớn, cánh tay đều để trần. Các ngón tay trong tư thế ấn quyết hoặc thiền định. Ngón tay búp măng, cổ tay đeo vàng kép nổi hạt ở giữa. Vòng dây chuyền đeo từ cổ xuống ngực. Ao tượng bó sát người với nhiều nếp phủ trên vai, bụng tượng thắt hầu bao. Tượng ngồi tư thế thiền định, bàn chân phải đặt ngửa trên đùi trái.
 
-Vành tay phụ phía sau làm thành một vòng tròn lớn đặt rời ra phía sau tượng. Trên đỉnh chạm một con chim có hai đầu người, cánh lớn xòe ra ôm lấy hai bên, đuôi chổng ngược. Vành tay được trang trí bằng hai đường diềm là văn xoắn và hàng dây cúc. Các cánh tay nhỏ được xếp thành nhiều lớp (từ 6 lớp ở phía dưới đến 14 lớp ở phía trên). Có 789 tay dài ngắn khác nhau, trong lòng mỗi bàn tay có một con mắt được chạm chìm.
 
-Đài sen được làm từ ba lớp cánh sen chính và một lớp phụ. Trong lòng mỗi cánh chính có hai gờ nổi nối từ gốc cánh sen lên phía trên rồi cuộn vào giữa để nâng nửa bông cúc mãn khai.
 
-Tòa sen được một con rồng đội. Rồng có mắt lồi kép, sừng mai, tai hình lá, miệng há mở, có răng nhọn, miệng ngậm hạt minh châu. Rồng tạc kiểu nhô đầu và hai tay lên trên mặt biển cuộn sóng, trên mặt sóng là cua, ốc, trai, cá.
 
-Bệ tượng được tạo thành nhiều cấp, nhiều lớp, được trang trí những hàng cánh sen, những vòng tròn kép, rồng và cá hóa long tranh nhau một quả cầu trên mặt bể, con lân đang vờn một viên ngọc lửa… Ở đây có ghi bằng chữ Hán niên đại tạo tượng: “Tuế thứ Bính Thân, thu nguyệt cốc nhật doanh tạo” và người tạo tác: “Nam Đồng Giao Thọ Nam Trương tiên sinh phụng khắc”.
 
-Tượng có kích thước như sau : chiều cao của tượng (tính từ đài sen lên): 235 cm; đầu rồng đội tòa sen: 30 cm; bệ tượng: 54 cm; chiều ngang của cánh tay xa nhất: 200 cm; chiều cao của vành tay phụ: 370 cm; đường kính của vành tay phụ: 224 cm.
 
-Từ thượng điện, qua chiếc cầu đá ba nhịp đến tòa Tích Thiện Am. Thành cầu cũng có 12 bức phù điêu đá miêu tả động vật và người.
 
-Chính giữa lòng nhà tòa Tích Thiện Am đặt cây tháp gỗ Cửu Phẩm Liên Hoa 9 tầng, 8 mặt, có thể quay tròn quanh một trục. Tháp mang ý nghĩa Cửu phẩm vãng sinh về thế giới Cực Lạc của đức Phật A Di Đà. Tháp đặt nhiều pho tượng Phật, Bồ tát và trang trí nhiều mảng phù điêu lấy đề tài trong Phật thoại.
 
-Sau Tích Thiện am là ba nếp nhà song song. Đó là nhà Trung, nhà Phủ thờ (có tượng Thái hậu Trịnh Thị Ngọc Trúc, Công chúa Lê Thị Ngọc Duyên và Quận chúa Trịnh Thị Ngọc Cơ) và nhà hậu đường thờ tượng tổ sư các đời.
 
-Bên trái chùa còn có nhà tổ đệ nhất, thờ Thiền sư Chuyết Chuyết.
 
-Chùa có ngọn tháp đá Báo Nghiêm cao hơn 13 m, trong tháp có tượng Thiền sư Chuyết Chuyết. Phía sau chùa có ngọn tháp đá Tôn Đức cao khoảng 10 m, trong tháp có tượng Thiền sư Minh Hành.
 
-Chùa đã được trùng tu vào các năm 1739, 1903, 1915-1921 và 1992 – 1996. Đây là ngôi chùa có kiến trúc quy mô, hoàn chỉnh nhất còn lại ở nước ta. 
 
-Chùa Bút Tháp đã được Bộ Văn hóa – Thông tin công nhận là Di tích L ịch sử – Văn hóa Quốc gia.
 
1.2. CHÙA DÂU :
 
-Vị trí: Chùa Dâu thuộc thôn Khương Tự (còn gọi là làng Dâu), xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Đặc điểm : là ngôi chùa đầu tiên của Việt Nam, được khởi dựng vào đầu thế kỷ thứ 3.
 
-Chùa thường được gọi là chùa Dâu, tọa lạc ở xã Thanh Khương, huyện Thuận Thành, tỉnh  Bắc Ninh, cách Hà Nội khoảng 30km. Chùa thuộc hệ phái Bắc tông.
Chùa Pháp Vân cùng các chùa Pháp Vũ, Pháp Lôi, Pháp Điện hợp thành chùa Tứ Pháp. Ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần: chùa Pháp Vân thờ Bà Dâu, chùa Pháp Vũ thờ Bà Đậu, chùa Pháp Lôi thờ Bà Tướng, chùa Pháp Điện thờ Bà Dàn.
 
-Chùa được xây dựng vào khoảng đầu Tây lịch ở vùng Dâu, thời thuộc Hán gọi là Luy Lâu, là một trung tâm Phật giáo Việt Nam xưa nhất. Thiền sư Tì-ni-đa-lưu-chi (Vinitaruci) – người Nam Thiên Trúc, sang Trung Hoa, đắc pháp với Tam Tổ Tăng Xán, được Tam Tổ chỉ dạy về phương Nam truyền đạo – đã đến chùa vào tháng Ba năm Canh Tý (580), mở đạo tràng thuyết pháp, lập nên Thiền phái đầu tiên ở Việt Nam.
 
-Chùa đã được Trạng nguyên Mạc Đĩnh Chi đứng ra dựng lại với quy mô lớn vào thế kỷ XIV và được trùng tu nhiều lần ở các thế kỷ sau.
 
-Ở tòa thượng điện còn một số mảng chạm khắc của thời Trần, thời Lê. Ở đây còn có tượng Bà Chúa Trắng Trương Thị Ngọc Chử và tượng Bà Hậu Khe Nguyễn Thị Cảo. Tượng Thái phi Ngọc Chử (1666 – 1750) được tác dạng bán khỏa thân tọa thiền trên một tòa sen. Bà là mẹ của An Đô Vương Trịnh Cương (1685 – 1729) là vị chúa có nhiều tâm huyết với công cuộc cải cách kinh tế, chính trị. Bản thân Bà cũng đã cho xây dựng, trùng tu nhiều công trình văn hóa dân tộc như : chùa Hàm Long, chùa Hồ Thiên, chùa Bút Tháp, chùa Pháp Vân…
 
-Chùa có tháp Hòa Phong nổi tiếng, tương truyền có 9 tầng, nay chỉ còn 3 tầng, được đại trùng tu vào năm 1737. Ca dao xưa có câu:
Dù ai đi đâu về đâu
Hễ trông thấy tháp chùa Dâu thì về
.
 
-Chùa Pháp Vân là một danh lam bậc nhất của xứ Kinh Bắc xưa nay, được xem là ngôi chùa đầu tiên của Phật giáo Việt Nam.
 
-Chùa Pháp Vân đã được Bộ Văn hóa – Thông tin  công nhận là Di tích Lịch sử – Văn hóa Quốc gia.
 
1.3. LỄ HỘI CHÙA DÂU :
 
-Hội Dâu được tổ chức tại vùng Dâu, Bắc Ninh bao gồm năm ngôi chùa cổ: chùa Dâu thờ Pháp Vân (法雲寺, "mây pháp"), chùa Đậu thờ Pháp Vũ (法雨寺, "mưa pháp"), chùa Tướng thờ Pháp Lôi (法雷寺, "sấm pháp"), chùa Dàn thờ Pháp Điện (法電報寺 "chớp pháp") và chùa Tổ thờ Man Nương là mẹ của Tứ Pháp. Năm chùa này ngoài thờ Phật còn thờ các nữ thần. Ngày 8/4 âm lịch được chọn làm ngày mở hội chùa Dâu, đây cũng được coi là ngày sinh của Phật tổ Thích Ca Mâu Ni.
 
-Tuy nhiên, trước khi đạo Phật được truyền vào thì người dân bản địa đã có tín ngưỡng thờ Thần Nước, tức là những vị Thần Nông nghiệp. Câu chuyện nàng Man Nương, cô gái Kẻ Mèn mộ đạo Phật, nằm ngủ quên giữa cửa, sư Khâu Đà La vô tình bước qua mà thụ thai, được giải thích là sự mầu nhiệm của “Thiên Nhân hợp khí”. Thực chất đó là cuộc hôn phối giữa đạo Phật với tín ngưỡng bản địa. Kết quả sau đấy đã sinh ra bé gái, tiền thân của Phật Tứ Pháp (Mây, Mưa, Sấm, Chớp) thờ ở vùng Dâu - Luy Lâu rồi lan tỏa ra nhiều nơi khác.
 
-Người xưa cũng làm cuộc “đánh tráo khái niệm” tài tình, cho bé gái sinh trùng khớp vào ngày Phật đản. Thành ra mồng 8/4 không chỉ là ngày sinh Phật Thích Ca mà còn là ngày sinh của Phật Tứ Pháp ở Việt Nam. Song ý nghĩa quan trọng nhất của Hội Dâu là cầu cho mưa thuận gió hòa, ước vọng ngàn đời của cư dân nông nghiệp.
 
-Ban ngày, rước Tứ Pháp về chùa Dâu “công đồng” là hội tụ các yếu tố Mây, Sấm, Chớp, Mưa. Ban đêm, rước Tứ Pháp đi “tuần nhiễu” một vòng khép kín từ Đông sang Tây là mô tả chu kỳ quả đất xoay tròn, tạo ra năm tháng, bốn mùa.
 
-Tổng thể 5 chùa cùng mở hội. Lễ hội có lễ rước lớn, đám rước 4 chị em về chùa Tổ bái vọng mẹ. Dâng hương cầu kinh xong, đám rước lần lượt trở về các chùa. Trong lúc rước, có các trò : múa gậy, cướp nước, múa sư tử, múa hóa trang rùa, múa trống, đấu vật, cờ người, đốt cây bông.
 
-“Múa gậy” không chỉ để dẹp đám mà còn tái diễn sự tích cây gậy thần kỳ. Giếng cổ trong chùa là dấu vết Man Nương cắm gậy xuống đất làm ra nước cứu sống sinh linh.
 
-Đặc biệt cuộc thi “Cướp nước” được đón đợi nhiều nhất, là cuộc thi chạy giữa bà Sấm (Pháp Lôi) với bà Mưa (Pháp Vũ). Người ta bói xem ai về đích trước để dự báo mùa màng. Nếu là bà Mưa thì năm ấy được mùa. Nếu là bà Sấm thì năm ấy ruộng đồng lắm sâu, nhiều đỉa, làm ăn trắc trở.
 
1.4. CHÙA BỒ ĐỀ :
 
-Chùa có tên chữ là Thiên Sơn. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ “đại công đức Bồ Đ” của vua Lê Thái Tổ. Chùa chỉ còn tòa thượng 5 gian xây trên nn cao, dáng b thế, cổ kính.
 
-Bồ Đề hiện nay là một phường thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội, Việt Nam. Sở dĩ gọi là “Bồ Đề” vì xa xưa trong làng có hai cây bồ đề cao, nổi bật giữa những làng quê ven sông Hồng, ngang đỉnh tháp chùa Báo Thiên ở trong Kinh thành Thăng Long ở bên kia sông.
 
-Chùa Bồ Đề còn có tên gọi là Thiên Sơn Tự. Chùa toạ lạc tại thôn Phú Yên, xã Bồ Đề, huyện Gia Lâm, cách bờ Bắc cầu Chương Dương khoảng 500 m về hướng Nam, nay thuộc quận Long Biên, thành phố Hà Nội. Đây là một ngôi chùa và cũng là mái ấm tình thương đùm bọc, cưu mang trẻ mồ côi.
 
-Tương truyền chùa được xây trên đất dinh Bồ Đề của Lê Lợi khi vua bao vây thành Đông Quan năm 1472. Các tài liệu lịch sử còn ghi lại là: "Vua làm lầu nhiều tầng ở dinh Bồ Đề trên bờ sông Lô, cao bằng tháp Báo Thiên, hàng ngày ngự trên lầu quan sát vào trong thành xem giặc làm gì". Dinh được gọi tên là dinh Bồ Đề vì lúc ấy trong khuôn viên có hai cây bồ đề to. Tấm bia cổ dựng năm Hoằng Định thứ 15 (1614) đời Lê Kính Tông có chép lại việc dựng lại chùa và ghi rõ "Đại công đức Bồ Đề" của vua Lê Thái Tổ.
 
-Thế nhưng, cũng có nhiếu ý kiến cho rằng chùa được xây từ cuối đời nhà Trần, trên một gò đất cao gọi là Núi Trời (nên còn có tên gọi là Thiên Sơn). Sau này, do bị chiến tranh tàn phá nên năm 1614, chùa được trùng tu tôn tạo trên nền chùa cũ và công đức khắc in vào hai quyển Pháp Hoa kinh để lưu hành. Đến giữa thế kỉ XVIII, chùa lại tiếp tục bị chiến tranh huỷ hoại.
 
-Năm Giáp Tuất đời Tự Đức 27 (1874), đại sư Thích Nguyên Biểu - tự hiệu là Nhất Thiết đại sư (1835 - 1906) đến trụ trì và ngài đã trùng tu, tôn tạo trên nền chùa cũ gồm thượng điện rộng 5 gian, cho thỉnh thêm tượng Phật mới, chùa Hộ, nhà Thiêu hương, nhà Pháp bảo và cửa Tam quan.
 
-Đầu thế kỉ XX, chùa Bồ Đề trở thành trung tâm đào tạo tăng ni của thành phố Hà Nội, trực thuộc Giáo hội Phật giáo Việt Nam do Hoà thượng Thích Trí Hải đảm trách. Năm 1946, Pháp trở lại gây chiến, trung tâm đã dời đi nơi khác.
 
-Năm 1951, thành phố bị lũ lụt lớn, chùa bị sạt lở, chỉ còn lại toà thượng điện. Năm 1971, chùa một lần nữa được trùng tu như kê kích lại toàn bộ thượng điện và xây dựng lại hậu cung phía sau, nâng cao nền chùa. Năm 1986, chùa được trùng tu nhà Tổ, hậu liêu, nhà khách, nhà Tăng, nhà bếp cũng như khu vực nhà ở của hơn 50 cô nhi đang được nuôi dạy tại chùa. Năm 1999, chùa tiếp tục xây lầu bát giác và tôn trí tượng Bồ Tát Quan Thế Âm cao 3,2 m.
 
-Hiện nay, chùa là mái ấm tình thương dành cho các em bé mồ côi, cơ nhỡ, đồng thời cũng là điểm tham quan thu hút nhiều du khách trong và ngoài nước.
 
-Khi vào đây, Du khách không chỉ cảm nhận được cái không khí linh thiêng của xứ phật mà còn cảm nhận được cái ấm áp của tình thương và lòng người. Hãy 1 lần ghé thăm ngôi chùa này để cảm nhận một không gian thanh bình giữa cuộc sống tấp nập nơi phồn hoa đô thị. Ở nơi đó, các bạn sẽ gặp những tấm lòng vàng, những tấm lòng vẫn ngày đêm trăn trở, mang đến cho các em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn này 1 cuộc sống tràn ngập yêu thương. Hãy đến và chia sẻ tình yêu thương của mình, để thấy cuộc sống này thật ý nghĩa!
 
 
Mã Tour : vinhhalong-000-000-000-101
Thời gian : 01 ngày.
Điểm đến chính : Chùa Bút Tháp, Chùa Dâu, Chùa Bồ Đề.
Nơi khởi hành : Hà Nội – Nơi kết thúc tour : Hà Nội.        
Giá Tour / 1 người : 386.000 VNĐ / 1 khách.
Điện thoại: 043 996 7867,   Hotline : 09.62.8888.62  /  09.68.2222.86  /  0916.129.555
 
2.THÔNG TIN CHI TIẾT VỀ CHƯƠNG TRÌNH DU LỊCH :
 
HÀ NỘI – CHÙA BÚT THÁP – CHÙA DÂU – CHÙA BỒ ĐỀ - HÀ NỘI.
 
-6h 30 : Xe và Hướng dẫn viên của Công ty TNHH Du lịch Vịnh Hạ Long đón Quý khách tại điểm hẹn ở Hà Nội, khởi hành đi tham quan dòng sông Hồng.
 
-7h 30 : Tàu rời bến, ngược dòng Sông Hồng sau đó xuôi dòng Sông Đuống.
 
-10h 00 : Tàu cập bến Kim Sơn, ô tô đưa Quý khách đi thăm chùa Dâu và chùa Bút Tháp.
 
-12h 30 : Ô tô đưa Quý khách trở lại tàu, ngược dòng sông Đuống trở về Hà Nội, thưởng thức dân ca Quan họ Bắc Ninh và dùng bữa trưa trên tàu.
 
-15h 00 : Tham quan Chùa Bồ Đề.
 
-16h 00 : Quý khách lên tàu trở về Hà Nội.
 
-16h 30: Tàu về đến bến, kết thúc tốt đẹp chương trình du lịch lễ hội : Hà Nội – Chùa Bút Tháp – Chùa Dâu – Chùa Bồ Đề - Hà Nội 01 ngày.
 
 - Hướng dẫn viên của Công ty TNHH Du lịch Vịnh Hạ Long cảm ơn Quý khách đã sử dụng dịch vụ của công ty, chào tạm biệt và hẹn gặp lại Quý khách trong các chương trình du lịch sau !  
***************************************************************************************
3. CHI TIẾT VỀ GIÁ TOUR DU LỊCH :
Giá Tour trọn gói / 1 người :  386.000 VND ( Ba trăm, tám mươi sáu  nghìn đồng ), áp dụng cho đoàn 20 khách trở lên
 
3.1. GIÁ TRÊN BAO GỒM:
- Xe ô tô 29 chỗ, điều hòa nhiệt độ tốt.
- Nước suối : 1 chai/người/ngày, cafe tan, trà sâm Hàn Quốc trên xe.
- Hướng dẫn viên suốt tuyến.
- Hai nghệ sỹ hát Dân ca Quan họ Bắc Ninh hát phục vụ Đoàn trên tàu.
- Ăn chính : 120.000 VND/bữa.
- Vé vào cổng các điểm tham quan theo chương trình du lịch này.
- Bảo hiểm 10.000.000 VNĐ/vụ (Mười triều đồng / vụ).
- Trẻ em từ 5 tuổi trở xuống : miễn phí.
- Trẻ em từ 6 tuổi đến 11 tuổi : tính ½ người lớn.
- Trẻ em từ 12 tuổi trở lên : tính như người lớn.
 
3.2. GIÁ TRÊN KHÔNG BAO GỒM :
- Chi phí cá nhân : giặt là, điện thoại...
- Đồ uống.
- Thuế VAT 10%.
- Các chi phí không có trong chương trình này.
 
CÔNG TY TNHH DU LỊCH VỊNH HẠ LONG
( HA LONG BAY TOURISM CO ., LTD )
Có các tour du lịch hấp dẫn.
Có tour do Quý khách tự thiết kế, chúng tôi sẽ tư vấn và báo giá.
Cung cấp dịch vụ biên phiên dịch tiếng Hàn Quốc với chất lượng hàng đầu Việt Nam.
Hotline :  09.62.8888.62  /  09.68.2222.86  /  0916.129.555
E-mail : info@dulichvinhhalong.vn      
 
 
 
 
 
 
Tour du lịch bạn có thể quan tâm

Hỗ trợ trực tuyến

09.62.8888.62
09.68.2222.86
Tu van 2
0439.967.867
Tu van 1
0439.967.867

Thống kê truy cập

Đang online16
Hôm nay773
Hôm qua929
Tuần này4135
Tháng này15136
Tất cả1002576

Quảng cáo